MỘT CÂU CHUYỆN KÌ DỊ

Bây giờ chúng ta hãy rời Pháp để qua Ý và cùng bước sang giữa thế kỷ 20. Chúng ta sẽ gặp một trường hợp rất kì lạ trong miền Plaisance. Về tài liệu, chúng tôi viết theo cuốn sách nhỏ của Alberto Vecchi, nhan đề Intervistacol diavole (Hội kiến với ma quỷ) (Edizioni paoline, Modène, Italie)

Một buổi tối tháng 5.1920, một linh mục dòng Phanxicô, tên Pier-Paolo Veronesi, vừa tới phòng thánh của nhà nguyện tu viện S. Maria di Campagna ở Plaisance, thì có một phụ nữ tới xin cha ban phép lành. Chị muốn cha ban phép lành cho chị ở bàn thờ kính Đức Trinh Nữ Maria. Cha sẵn lòng chiều theo ý chị, nghĩ rằng ý muốn này là do lòng sùng kính Đức Mẹ. Nhưng cha hơi ngạc nhiên khi chị xin được phép nói chuyện với cha ở phòng thánh một chút, gương mặt chị thì in hằn một nỗi buồn kéo dài. Cha nghĩ rằng chị có một nỗi buồn nào đó, một cơn thử thách đau thương nào đó, nên cha không thể từ chối chị một vài phút nói chuyện theo như chị yêu cầu.

Lúc đầu chị nói bằng một giọng nghẹn ngào, nhưng càng nói chị càng tỏ ra tự tin hơn, và thổ lộ hết tâm sự của chị. Chị nói gì vậy?

Vào những khoảng thời gian nào đó, chị cảm thấy có một sức mạnh kì lạ xâm chiếm con người chị, khiến cho chị làm những động tác ngoài ý muốn của chị. Lúc đó chị tự nhiên cảm thấy mình bắt đầu nhảy múa liên tục mấy tiếng đồng hồ, mặc dù chị không muốn làm điều đó, cho tới khi kiệt sức thì chị ngã xuống. Tự nhiên chị thấy mình hát lên những điệu nhạc mà chị chưa hề nghe bao giờ, hoặc chị giảng cho một cử toạ tưởng tượng bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ. Thường thường chị cảm thấy có một nhu cầu không thể cưỡng lại được, bắt chị dùng răng cắn xé tất cả những gì rơi vào tay chị. Chị điên cuồng xé hết tất cả quần áo của chồng chị. Nhiều khi chị giống như một con hươu, trước sự kinh hãi của những người trông thấy, chị nhảy từ ghế này sang ghế khác, nhảy cả lên bàn, rồi gầm rú lên, kêu meo meo… đến nỗi người ta tưởng rằng họ đang sống trong một cái chuồng thú dữ. Cuối cùng, chị bỗng nhiên nói được những chuyện ở xa và những chuyện chưa ai biết, mà về sau người ta kiểm chứng lại và thấy đúng. Sau những màn kinh dị như thế tại nhà chị, và khi đã kiệt sức vì mệt mỏi, thân xác chị đen thui và sưng lên trong nhiều ngày, đến nỗi làm cho những người trông thấy phải thương hại.

Điểm cuối cùng là khi chị bị rối loạn như vậy, thì dù cha mẹ chị ở xa, chị cũng biết rằng các ngài cũng cảm thấy khó chịu, y như một ảnh hưởng huyền bí nào đó chuyển từ chị tới các ngài. Chị kết luận:

_ Thưa cha, cha thấy đó, cuộc sống của con trở nên y như hoả ngục. Con có 2 đứa con, nhưng mặc dù vậy, con chỉ nghĩ tới cái chết, và đó là sự giải thoát cho con.

Vị linh mục đã không ngạc nhiên về toàn bộ câu chuyện này. Vì cha đang làm tuyên uý cho một bệnh viện tâm thần, nên cha chỉ kết luận rằng mình đang đối diện với một người đầu óc đang bị bấn loạn. Cha chỉ hỏi một vài câu:

_ Tất cả những chuyện đó có đúng như vậy không?

_ Đúng, rất nhiều nhân chứng có thể xác nhận điều đó.

_ Việc đó kéo dài lâu chưa?

_ Đã được 7 năm rồi.

_ Các y sĩ đã nói gì với chị?

_ Con đã đi hết các bác sĩ mà con biết ở Plaisance rồi! Tất cả đều nói với con bằng những hình thức ít hoặc nhiều rõ ràng, rằng trường hợp của con là một trường hợp cuồng loạn.

Nghe những lời này cha cảm thấy an tâm. Đó chính là những điều cha đã nghĩ. Cha nói:

_ Vậy chị có biết chị bị sao không?

_ Không, bởi vì con cảm thấy rõ ràng rằng con không bị cuồng loạn cũng không bị điên.

_ Rồi sao?

_ Rồi con cảm thấy rằng người ta không thể giúp đỡ gì con được, con cần phải nương tựa vào Chúa. Con đã tới tất cả các nhà thờ của thành phố, bất chấp sự ngại ngùng và nhàm chán, để cầu nguyện và để lãnh nhận các phép lành. Mỗi lần con nhận được một phép lành, con cảm thấy khoẻ hơn được một vài ngày. Nhưng con đã đi tới các nhà thờ thường xuyên tới mức độ người ta cho rằng con bị điên, và con không dám tới nữa. Nhưng xin cha hãy nghe con kể những gì xảy đến cho con:

“Con nghe nói rằng trên các ngọn đồi có một linh mục ban phép lành rất linh nghiệm, linh nghiệm đặc biệt. Con muốn tới đó với ngài. Một Chúa nhật, sau khi ăn trưa, con lên đường, với chồng và nhiều bà con của con, trên một chiếc xe ngựa mà con mượn được của xã S. Giorgio. Con ngựa chạy nước kiệu rất tốt, đã nuốt nhanh những quãng đường dài. Bỗng nhiên nó dừng lại và không chịu đi nữa. Người ta đánh nó đến chảy máu cũng vô ích. Nó đá hậu, làm sút cả yên ra, nhưng không chịu bước tới nữa! Lúc đó, không biết chuyện gì đang xảy đến cho con, con nhảy đại từ trên sa xuống, không để cho những người bên cạnh kịp giữ, và con bắt đầu bay – đó chính là từ thích hợp – bay cao hơn mặt đất nửa mét, băng qua các cánh đồng, cứ thế con lên trên đồi hướng về phía tháp chuông của xứ đạo mà con muốn tới. Các tín hữu đã chầu phép lành ban tối xong, bây giờ đang ra về. Tất cả họ đều thấy con bay lên về phía nhà thờ, vừa tru tréo lên, vừa khua tay múa chân: những con chó sủa lên ầm ĩ, còn gà thì nháo nhác chạy trốn, và con đã đến nơi. Tất cả mọi người đều tránh ra, còn con, hạ thấp đầu xuống, thân dài ra, con bươn qua cửa nhà thờ đang mở hé, và lao tới nằm dưới chân bàn thờ chính, trên bàn thờ có bày một bức tượng thánh Expédit. Cha sở, dẫn đầu đám đông, chạy tới, thấy mọi chuyện xảy ra, ngài ban phép lành cho con. Lúc đó con mới hoàn hồn, và trong nhiều ngày, con cảm thấy khá hơn, khá hơn rất nhiều!”.

Tất cả bài diễn văn ấy chỉ làm xác tín thêm những nghi ngờ của cha Pier-Paolo. Cha nói một cách lưỡng lự:

_ Những hiện tượng ấy thật kì dị, phải, thật là kì dị! Rồi cha bảo chị ta:

_ Hãy nghe đây, vì phép lành làm cho chị khoẻ hơn, nên đừng sợ gì cả, cứ tới đây khi nào chị muốn. Nếu không có tôi ở đây, thì luôn luôn có một linh mục bạn của tôi sẵn sàng ban phép lành cho chị.

NHỮNG DẤU CHỈ RÕ RÀNG

Một vài ngày trôi qua, người phụ nữ đó lại tới để lãnh nhận phép lành. Nhưng trong khi cha Pier-Paolo đang ban phép lành cho chị ta, thì chị ta dựa vào một cái cột gần chỗ ca đoàn, bắt đầu kêu hư hử, miệng ngậm lại như một con chó kêu lúc nó mơ màng. Rồi đôi mắt nhắm lại, chị cất tiếng hát một bài ca lạ lùng. Chị hát bằng một giọng say sưa, phong phú, vang dội, khiến cho tất cả trẻ em gần đó chạy lại để nghe. Hát xong, chị bắt đầu nói tiếng lạ, dường như chị đang tranh cãi chống lại một quyền lực vô hình, và lên giọng giận dữ như giọng của một người điên lúc giận dữ tới cực điểm.

Đúng lúc đó, một cha khác đi ngang qua nhà thờ, đó là cha Apollinaire Focaccia. Cha đã quan sát lúc chị ta hát, và lúc chị nguyền rủa bằng tiếng lạ… Đến tối, cha nói với cha Pier-Paolo:

_ Cha có chú ý tới bà ấy không?

_ Có chứ! Chuyện gì vậy?

_ Cha không bị ấn tượng gì à?

_ Thành thật mà nói thì không. Vì tôi làm tuyên uý cho các bà điên, nên tôi quen với những cảnh này rồi!

_ A, nhưng cần phải chú ý! Theo tôi thì bà này đã bị quỷ nhập!

_ Đừng nói quá! Cha Pier-Paolo đáp lại. Không nên chỗ nào cũng đặt ma quỷ vào một cách vô thưởng vô phạt như dân chúng vẫn làm, đang khi vấn đề chỉ là những chuyện có thể giải thích một cách tự nhiên được. Và rồi điều gì hôm nay không giải thích được, thì ngày mai chắc chắn khoa học của con người sẽ giải thích được.

_ Tôi không đồng ý kiến với cha, cha Apollinaire nói. Không phải thế đâu! Cha đã quên rằng bà ta nói được một thứ tiếng lạ đó sao? Rõ ràng là bà ta đang sống trong một thế giới huyền bí, và cái thế giới đó chính là thế giới của ma quỷ!

_ Này cha Apollinaire! Một ngày nào đó, cha hãy đi với tôi vào bệnh viện tâm thần, tôi sẽ chỉ cho cha coi những trường hợp rất hay, mà khoa học chưa thể giải thích được.

_ Tôi sẵn sàng đi, nhưng cha hãy nói cho tôi biết, cha đã gặp một trường hợp nào đại khái giống như trường hợp này chưa?

_ Thực sự là chưa!

_ Vậy chúng ta có quyền chấp nhận như là một giả thuyết, không đi ngược lại khoa học, rằng có thể ma quỷ can thiệp trong trường hợp này. Người phụ nữ này có vẻ rất bình thường. Nhưng trong bà ta có một nhân cách khác với nhân cách của bà ta. Chúng ta đã nghe bà hát. Không có một ca sĩ nào, thậm chí nổi tiếng nhất thế kỷ này, có thể hát hay như vậy. Và phải nói thế nào về những lời chửi rủa dị thường được phát lên bằng một ngôn ngữ còn dị thường hơn nữa? Không, cha không thể khiến tôi bỏ ý nghĩ cho rằng bà ta bị quỷ nhập. Chắc chắn chúng ta không còn ở thời đại trung cổ nữa. Thời đó, chỗ nào người ta cũng thấy có những trò phù thuỷ và những trò ma quỷ. Nhưng chúng ta không được tự hào rằng mình thông thái hơn Phúc Âm, hơn Chúa Giêsu, hơn thánh Phaolô và thánh Phêrô, các ngài đã nói về ma quỷ như một hữu thể có thực. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo dân Êphêsô nói rằng ma quỷ ở trong không khí. Hiện tượng quỷ nhập đã được biết đến từ thời thái cổ. Giáo Hội đã thiết lập chức trừ quỷ không phải để chơi. Theo như các vị thừa sai của Giáo Hội trong những xứ ngoại giáo, thì ma quỷ hoạt động rất mạnh trong những dân tộc còn sống trong bóng tối tăm của ngoại giáo. Chắc chắn nó cũng có thể hoạt động như thế nơi những dân tộc theo đạo Chúa nhưng vẫn có nhiều người từ chối niềm tin vào Phép Rửa…”.

Cha Apollinaire còn khai triển tư tưởng của mình lâu nữa. Cha Pier-Paolo dần dần được lay chuyển, nhưng vẫn chưa xác tín. Ngài nói:

_ Thưa cha, tất cả những gì cha vừa nói đều rất đúng. Nhưng tôi không tranh luận về giáo lý, tôi chỉ nói về những sự kiện, tôi nghi rằng bà này thực sự bị quỷ nhập.

GẶP GIÁM MỤC

Sau cuộc tranh luận tối hôm trước, cha Pier-Paolo cảm thấy có phần bối rối, nên sáng hôm sau, cha đã tới gặp Đức Giám Mục của mình là Đức Cha Pellizzari để trình bày chi tiết tất cả những sự kiện mà chúng tôi vừa kể. Sau một lúc suy nghĩ, Đức Cha chỉ nói:

_ Này cha, cha hãy làm phép trừ quỷ cho bà ta!

_ Thưa Đức Cha, linh mục vội vàng trả lời, có cần thiết phải làm điều đó chăng?

_ Cần chứ! Đức Giám Mục không ngần ngại trả lời.

_ Chính con phải trừ quỷ cho bà ta sao?

_ Phải, cha phải làm!

_ Đức Cha có thể trao trách nhiệm cho người khác không?

_ Hoặc cha, hoặc Đức Cha Mosconi (tức Giám Mục phó), nhưng tốt hơn là cha làm, vì cha biết bà ta.

_ Xin Đức Cha thứ lỗi, nếu không lầm thì con nghe nói rằng ma quỷ sẽ chống lại người nào dùng phép trừ quỷ để trừ nó, và sẽ bày ra đủ trò để quấy phá người ấy!

_ Nhưng ai có thể tin được lời của ma quỷ? Cha không biết rằng ma quỷ là cha của mọi sự dối trá sao?

Cuối cùng, cha Pier-Paolo phải vâng theo ý của Đức Cha. Từ toà giám mục trở về, cha cũng hơi lo lắng. Đương đầu với ma quỷ, đối với cha, có vẻ là một cuộc phiêu lưu kinh khủng. Cha là một linh mục rất đạo đức, nhưng có phần nào hơi nhút nhát, sợ phải bước vào một trận chiến trong đó có lẽ cha khó nắm được phần thắng. Nhưng lệnh Đức Giám Mục rất rõ ràng và dứt khoát. Cha tuân phục, cầu nguyện, cha ngủ rất ít, và quyết chí thi hành nhiệm vụ đã được uỷ thác. Ban sáng, cha đi tìm bác sĩ Lupi, giám đốc bệnh viện tâm thần để trình bày cặn kẽ những gì xảy ra, và ông bác sĩ đã bị thu hút bởi câu chuyện của cha, đã xin cha cho phép chứng kiến nghi thức trừ quỷ, và đó cũng chính là điều cha muốn đề nghị với ông.

TRỪ QUỶ LẦN ĐẦU TIÊN

Nghi thức trừ quỷ lần đầu được cử hành ngày 21.5.1920, lúc 2 giờ chiều, trong một căn phòng ở lầu một phía trên nhà nguyện. Chị bị quỷ nhập cùng đi với chồng, mẹ, một người bạn của gia đình, và hai cô gái. Cha Pier-Paolo được một linh mục bạn phụ tá tên là Giustino, có nhiệm vụ ghi lại tất cả những gì sẽ xảy ra, và một người phụ tá nữa là bác sĩ Lupi, giám đốc bệnh viện tâm thần.

Quỳ gối trước một bàn thờ nhỏ, trước tiên hai cha đọc kinh cầu các thánh theo như sách Các phép chỉ dạy. Người phụ nữ bị quỷ nhập ngồi trong một cái ghế bành bằng mây, vươn vai như một con ác thú vừa ngủ dậy. Bỗng nhiên, những lời đầu tiên của nghi thức trừ quỷ vang lên bằng tiếng Latinh:

“Exorcizo te, immundissime spiritus, omne phantasma, omnis legio…”

Nghe những lời này, người phụ nữ bị quỷ nhập dùng hai tay cầm lấy hai đầu bàn chân, nhảy bay lên khỏi mặt đất trông rất là ngoạn mục, rồi chị ta nhào xuống một cách thư thái như một con nai trong một tư thế đứng thẳng ở giữa căn phòng. Thân xác chị hoàn toàn biến đổi: gương mặt của chị trông thật gớm ghiếc. Chị bắt đầu tru tréo những lời nguyền rủa đối với linh mục trừ quỷ bằng một giọng vang như sấm, chẳng có một chút nữ tính nào:

_ Nhưng mi là ai mà dám chiến đấu với ta? Mi không biết rằng ta là Isabo có một đôi cánh dài và những quả đấm rắn chắc sao?

Từ miệng người bị quỷ nhập phát ra một trận chửi rủa như tát nước vào mặt linh mục trừ quỷ.

Bàng hoàng, ngạc nhiên và hầu như bối rối, vị linh mục cảm thấy ở trong tình thế phải im lặng trong giây lát. Nhưng không hiểu làm sao cha lấy lại được can đảm ngay, và cha mạnh dạn nói:

_ Ta, linh mục của Chúa Kitô, ra lệnh cho mi dù mi là ai mặc lòng, nhân danh mầu nhiệm Nhập Thể, nhân danh cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô, vì sự Lên Trời của Ngài, vì việc Ngài trở lại để phán xét chung, ta ra lệnh cho mi phải ở yên, không được làm hại một tạo vật nào của Chúa, hay làm hại một người nào ở đây, và phải vâng lời tất cả những gì ta ra lệnh cho mi!.

Trong khi mọi người đang xúc động, thì cuộc đối thoại sau đây xảy ra:

_ Nhân danh Thiên Chúa, mi là ai?

_ Isabo! Người phụ nữ kêu lên, gương mặt đỏ bừng và đôi mắt sáng rực.

_ Từ Isabo nghĩa là gì?

Thay vì trả lời, người đàn bà tự cắn tay và bàn tay, đồng thời như muốn chụp lấy áo của linh mục trừ quỷ. Nhưng rồi cuối cùng chị cũng nói:

_ Tên này có nghĩa là “bị bùa mê” tới mức không thể cản lại được.

_ Mi có quyền năng gì?

_ Quyền năng mà người ta cho ta!

_ Người ta cho mi những quyền năng nào?

_ Rất nhiều sức mạnh!

_ Mi nhận những sức mạnh đó từ người nào?

_ Từ người biết sai ta đi!

_ Mi nói thứ tiếng Ý nào vậy?

_ Ta không phải là người Ý.

Người phụ nữ hay nói đúng hơn là con quỷ đang chiếm hữu chị rú lên với một vẻ khinh thị, và đồng thời lại phát ra một trận chửi rủa xối xả. Trong thời gian trừ quỷ, những trận chửi rủa như thế còn xảy ra nhiều lần nữa.

_ Mi từ đâu đến? Vị linh mục hỏi không xúc động.

_ Nhưng mi ra lệnh cho ta làm như ta là nô lệ của mi vậy sao?

_ Hãy nói cho ta biết mi từ đâu tới?

_ Không nói!

_ Nhân danh Thiên Chúa, Đấng mà mi biết rất rõ, hãy nói cho ta biết mi từ đâu tới?

Nghe thấy tiếng “Thiên Chúa” người phụ nữ quay mặt đi chỗ khác, như một con bò rừng bị một cái gậy đập vào mõm, chị ta bất động trong giây lát và từ chối trả lời.

Cử toạ ngong ngóng chờ đợi khi đối diện với cái cảnh gây xúc động này.

_ Nhân danh Thiên Chúa, linh mục lại nói, vì Máu Ngài đổ ra, vì cái chết của Ngài, hãy nói cho ta biết mi từ đâu tới?

_ Từ những sa mạc ở xa.

_ Mi tới một mình hay tới với đồng bọn?

_ Ta có đồng bọn của ta.

_ Bao nhiêu?

Sau một lát lần chần tránh né, con quỷ trả lời, và nói những tên nghe dị thường như tên của nó.

_ Tại sao mi lại nhập vào thân xác này? Vị linh mục hỏi.

_ Vì một tình yêu mãnh liệt không được đáp lại.

_ Không được ai đáp lại?

_ Mi đúng là đồ ngu.

_ Hãy trả lời: ai không đáp lại tình yêu này?

_ Thân xác này! Vừa la, người phụ nữ vừa đấm thật mạnh vào ngực mình.

_ Tại sao mi không cùng thân xác này đáp lại tình yêu đó?

Bằng một giọng hãnh diện, cao ngạo, khinh thị, người phụ nữ trả lời:

_ Bởi vì như vậy không phải là chính đáng!

_ Vì thế thân xác này đã trở thành nạn nhân của mi à?

Để đáp lại câu hỏi này của cha Pier-Paolo, người bị quỷ nhập đã thốt ra một giọng cười dễ sợ, miệng vẫn mím lại, đôi môi chu ra như mõm thú vật, khiến cho tất cả những người chứng kiến phải sợ hãi trong giây lát.

_ Mi đã nhập vào thân xác này hồi nào?

Sau khi vặn vẹo người thật lâu nó mới trả lời câu hỏi này:

_ Vào năm 1913, ngày 23.4 lúc 5 giờ chiều.

Những câu hỏi dồn dập của linh mục bắt buộc người phụ nữ phải nói rằng hôm đó, một tinh thần xa lạ đã nhập vào chị theo một miếng bùa do một phù thuỷ luyện bằng một miếng thịt heo ướp muối rưới lên một ly rượu nho trắng.

Trong phần trừ quỷ tiếp theo, vị linh mục hỏi xem có thật con quỷ cũng đã nhập vào những người khác trong gia đình không. Con quỷ trả lời có.

_ Bằng thần giao cách cảm à? Vị linh mục nói.

_ Đồ ngu! Con quỷ trả lời.

Nhưng khi linh mục ra lệnh cho Isabo ra khỏi thân xác nó đang chiếm hữu, thì nó la lên: Không!

_ Hãy xéo đi! Vị linh mục kêu lên.

_ Không bao giờ!

_ Ta ra lệnh cho mi phải xéo đi!

_ Ta không đi: ta là Isabo!

Và trong cơn phẫn nộ khủng khiếp, người bị quỷ nhập gạt những người có mặt ở đó ra, lao về phía linh mục, tay giơ ra, mắt rực lửa, chụp lấy áo cha, xé dây các phép ra làm nhiều mảnh, với những tiếng kêu man rợ.

_ Người ta phải mất 7 ngày mới làm cho ta nhập vào được thân xác này, còn mi muốn làm ta ra khỏi người này chỉ bằng một lần trừ tà thôi sao?

Đây là lúc quyết định! Ông bác sĩ thản nhiên nhìn chòng chọc vào người phụ nữ bị quỷ nhập. Vị linh mục rảy nước thánh trên chị và ban phép lành, thì chị ta vật mình xuống đất, co rúm người và cuộn khúc lại, y như có người đốt cháy chị bằng than hồng.

_ Chừng nào mi mới ra? Linh mục hỏi.

_ Làm sao ra được, con quỷ nói bằng một giọng buồn sâu xa, trong khi mi cố làm cho ta ra khỏi thì những người khác lại cố làm cho ta ở lại.

_ Hãy đi ra! Linh mục kêu lên đồng thời đặt dây các phép lên vai người phụ nữ.

Khi đụng tới dây các phép, chị nhảy lên như một con hoẵng và điên lên vì sợ hãi. Chị ta bèn kêu:

_ Hãy bỏ gánh nặng này ra cho ta! Và chị ta chạy trốn.

_ Dừng lại! Vị linh mục la lên, nhưng chị ta vẫn tiếp tục chạy trốn, đồng thời kêu lên:

_ Hãy bỏ dùm tôi cái gánh nặng này! Hãy bỏ dùm tôi cái gánh nặng này!

Cảnh này còn kéo dài một lúc. Con quỷ tuyên bố rằng nó chỉ đi khi nào mửa ra được cái miếng thịt muối đã làm nên cái bùa này. Người ta đem tới một cái thau để chị mửa ra, nhưng uổng công. Nhiều lần dường như chị ta mửa ra một cái gì đó, nhưng không lần nào mửa ra những thứ đã ăn vào bữa trước. Vị linh mục lại hỏi:

_ Hỡi thần nhơ nhớp! Những lời nào khiến mi cảm thấy đau khổ nhất?

Nhiều lần tìm cách từ chối trả lời, nhưng vì linh mục cứ ép buộc phải nói, nên cuối cùng con quỷ trả lời một cách sợ hãi, giữa sự im lặng của mọi người:

_ Sanctus! Sanctus! Sanctus! (Thánh! Thánh! Thánh!)

Và quả thật, trong những lần trừ quỷ tiếp theo, người ta thấy ba tiếng ấy – mà phụng vụ gọi là Trisagion – có tạo ra một hiệu quả trừ quỷ thực sự.

Trong khi con quỷ nói những lời ấy thì nó cũng xen lẫn vào những tiếng rú khiến cho những người chứng kiến rất sợ hãi. Chính bác sĩ Lupi cũng đứng run rẩy và xanh mặt!

Nghi lễ trừ quỷ lần đầu kéo dài tới tối. Người phụ nữ bị quỷ nhập dường như đã kiệt sức, và cha Pier-Paolo cũng mệt không kém. Cha đã cho con quỷ một mệnh lệnh cuối cùng: không được làm một điều ác nào cho cả người bị quỷ nhập lẫn gia đình người đó. Sau khi hứa như thế, nó nhìn vị linh mục một cách đe doạ và xảo trá, rồi nó nhìn theo những bức tường của căn phòng dường như đang theo dõi một cuộc du ngoạn của các bóng ma vô hình, rồi nó rung động và co thắt người lại, cuối cùng ngừng tất cả mọi biểu hiện của nó. Người phụ nữ dường như ra khỏi một giấc ngủ sâu. Chị xanh xao nhưng bình thường. Chị ta xác nhận rằng chị hết sức mệt, nhưng không còn nhớ gì cả. Màn trừ quỷ này đã chấm dứt.

Cha Apollinaire hỏi cha Pier-Paolo:

_ Này cha Pier-Paolo, kết quả thế nào?

_ Bà này thực sự bị quỷ nhập!

Lần này cha không thể nghi ngờ gì nữa. Nhưng cha cảm thấy sợ hãi vì đối thủ có quyền năng như thế. Cha nói:

_ Thật không thể tin được thần ác lại có thể chống lại những phương thế hành động của chúng ta đối với nó tới mức độ đó!

Cha trở về phòng, hy vọng ngủ được một chút, lúc này cha mới buồn ngủ làm sao!

Người bạn của cha là cha Giustino đã ghi lại tất cả những gì xảy ra. Dựa trên chính bài tốc kí của cha viết đó, mà chúng tôi đã thuật lại tất cả một cách gián tiếp qua Alberto Vecchi.

NHỮNG ĐIỀU NHẬN THẤY

Đáng lẽ chúng tôi phải theo dõi từng bước một cuốn sổ ghi chép tuyệt hảo này để kể lại tất cả các cuộc chiến đấu còn phải trải qua từ ngày 21.5, ngày trừ quỷ đầu tiên, cho tới ngày 23.6, ngày cuối cùng. Trong khoảng thời gian đó có không dưới 13 buổi trừ quỷ. Ở cuối chương chúng tôi sẽ thuật lại lúc người phụ nữ bị quỷ nhập này được giải phóng. Nhưng chúng tôi phải nhấn mạnh những nhận định mà chúng tôi thấy được qua những lần trừ quỷ này.

Trước tiên, trong trường hợp quỷ nhập này, khởi đầu mọi sự là bởi một cái bùa do một tay pháp sư trong xứ luyện ra. Tác động bất lương của những bùa phép thì khó mà tin được. Pháp thuật là một sự kiện. Đó là một sự kiện vẫn còn hiện hành trong các miền quê của chúng ta, cũng như trong các miền quê nước Ý, và đương nhiên ở các xứ khác nữa!

Thật vậy, trong khi trừ quỷ, người ta biết được rằng chỉ trong vùng Plaisance thôi đã có 7 ông thầy pháp.

Thứ hai là qua sự thú nhận của ma quỷ, người ta biết rằng trong pháp thuật, cũng có một cuốn sách các phép của ma quỷ, trong đó có một số công thức ma thuật, được Thiên Chúa cho phép, có quyền năng vận dụng ma quỷ, bắt buộc chúng phải vâng lời nhập vào người này người kia để chiếm hữu. Tại đó có cả một phương diện về thực tế hoả ngục đã bị hiểu biết một cách sai lầm.

Thứ ba, để chống lại những cuộc tấn công của ma quỷ, chúng ta có những phương tiện hữu hiệu, trước hết là sự cầu nguyện, các bí tích, các á bí tích, việc kêu cầu các thiên thần và các thánh, sự phù hộ của Đức Trinh Nữ Maria.

Trong chương sau, chúng ta sẽ thấy quyền năng to tát mà Thiên Chúa đã khấng ban cho Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm. Và qua kinh nghiệm có kiểm chứng trong trường hợp Antoine Gay, chúng ta biết được từ miệng của chính ma quỷ rằng Đức Maria là Mẹ của Thiên đàng, với tất cả sức mạnh của từ ngữ này, và từ ngữ này đã nói lên tất cả.

Cuối cùng, dường như các danh hiệu mà các con quỷ đã mang đều hoàn toàn do tuỳ tiện. Nếu chúng ta tin vào Isabo, thì ít ra trong trường hợp người phụ nữ bị bỏ bùa ở Plaisance này, chính các thầy pháp ở xứ này đã đặt tên cho bảy con quỷ nhập vào chị ta, những tên mà chúng mang có vẻ kỳ cục, quái đản. Ngoài tên Isabo, chúng ta còn biết các tên Erzelaide, Eslender, …

Và tất cả những con quỷ này đều khác nhau, hơn nữa, dường như chúng không thiện cảm với nhau bao nhiêu.

Điều vẫn còn gây ấn tượng là sự tàn phá và những tác hại của chứng quỷ nhập, nhất là khi chúng đương sôi nổi nơi một người nào. Về điều này, chúng tôi có ghi lại những tâm sự của chồng người phụ nữ bị quỷ nhập ở Plaisance.

NHỮNG THAN VAN CỦA NGƯỜI CHỒNG

Một hôm cha Pier-Paolo đang chuẩn bị một buổi trừ quỷ, còn cha Giustino đang đổ đầy bình nước thánh sắp phải dùng tới, thì chồng của người phụ nữ bị quỷ nhập than thở:

_ Hy vọng công việc này sẽ kết thúc sớm!

_ Tôi hiểu, cha Pier-Paolo trả lời, hẳn nhiên là anh đã phải trải qua những giờ đầy cảm xúc!

_ Những giờ đầy cảm xúc à? Thưa cha, đó là những giờ khủng khiếp. Đúng ra con có thể kể cho cha cả ngàn chuyện, nhưng bây giờ con chỉ có thể đưa ra một vài chuyện thôi: rất nhiều lần vào buổi tối, khi con đi làm về, con thấy trong nhà tối thui, và mọi vật trong nhà đều ngổn ngang. Vợ con thì huýt sáo, kêu meo meo, gầm rống lên, nhảy lên ghế lên bàn, lên bất cứ đồ đạc nào… Những lần khác, con thấy vợ con đang tức giận xé quần áo, vải vóc. Lúc ấy thấy con, vợ con khóc lóc nói với con một cách bực tức: ‘Hãy cho tôi những vật để xé, lẹ lên, tôi cần phải xé, phải phá, phải tiêu hủy’. Vừa nói vợ con vừa nhe răng, giơ móng vuốt ra một cách dữ tợn!

_ Nếu như vậy, cha Pier-Paolo ngắt lời, thì quần áo anh chắc chắn còn rất ít!

_ Không còn gì cả! Vợ con đã xé tất cả! Cách đây không lâu, con chỉ còn 2 chiếc sơ mi, một cái đang mặc, một cái đang gửi giặt. Bây giờ để chắc ăn, con phải gởi bên hàng xóm tất cả những gì con có. Nhưng thảm kịch của vợ con không ngừng tại đó. Những lần khác nữa, con thấy vợ con ở dưới gầm bàn, co rúm lại, đầu thụt vào hai vai như một con thú bị mắc bẫy, các bắp thịt thì gồng lên như để chiến đấu và ăn tươi nuốt sống kẻ thù. Con gọi: “Têrêsa!”. Bằng một giọng khàn khàn, vợ con trả lời: “Ta là Isabo, chính ta đang điều khiển nó!” Mới đầu con tưởng vợ con đùa giỡn, con nói: “Têrêsa! Anh đang nói chuyện với em mà!” Vẫn cái giọng sầu thảm ấy, vợ con trả lời: “Ta là Isabo! Chính ta đang cai quản nó!”. Lúc ấy, vợ con ra khỏi gầm bàn, nhảy về phía con, giơ hai quả đấm lên để thụi vào mặt con, và tự nhiên còn chửi rủa tới tấp vào mặt con nữa. Một buổi tối con mệt mỏi hơn và chán chường hơn bình thường, con chửi một câu nặng nề chống lại Isabo, nhưng vợ con nhảy bổ vào con như một con mèo đang tức giận để bóp cổ con. Con phải vất vả lắm mới gỡ ra được. Có thể nói rằng sức mạnh của vợ con đã tăng lên gấp trăm lần!

_ Khi thấy vợ anh trong tình trạng ấy thì anh làm gì?

_ Con để những dụng cụ nghề nghiệp của con rớt xuống đất, người chồng trả lời một cách chán nản, con ăn vội một miếng bánh mì, rồi cố gắng tới giúp người vợ đáng thương của con cho tới 11 giờ đêm, đôi khi tới nửa đêm, cho tới khi con thấy vợ con tỉnh trí lại.

_ Thế còn con cái?

_ Mới đầu chúng sợ hãi và khóc lóc, nhưng chẳng bao lâu chúng quen đi, trẻ con thì vốn là như thế. Nếu vào ban sáng thì chúng chạy ra đường chơi đùa, nếu vào ban tối thì chúng nói với nhau: “Má bắt đầu khiêu vũ rồi, thôi chúng mình đi ngủ” và chúng đi ngủ.

_ Anh có còn hy vọng sẽ thấy được tất cả những cảnh này chấm dứt chăng?

_ Không còn hy vọng gì… Các y sĩ luôn luôn trả lời tương tự nhau, và cũng không biết làm gì hơn. Con đã chán nản đến nỗi sợ mình điên lên rồi làm tầm bậy.

_ Nhưng giờ đây, linh mục nói, chúng tôi đã thay thế những phương pháp chữa trị của các bác sĩ bằng quyền bính của Giáo Hội là mẹ chúng ta, và chúng ta có thể chắc chắn về kết quả cuối cùng.

_ Vâng, thưa cha, bây giờ con cảm thấy hoàn toàn an tâm và tin tưởng!

Như vậy có phải rõ ràng là Giáo Hội đã đem lại hy vọng cho người đàn ông dũng cảm này không? Nhưng những than van rất hợp tình hợp lý này giúp chúng ta đo lường được mức độ nguy hiểm mà chúng ta phải chịu nếu không có sự bảo vệ của Thiên Chúa, Ngài bắt ma quỷ phải giữ một khoảng cách nào đó đối với đại đa số nhân loại, chỉ cho phép chúng “cám dỗ” thôi – như chúng ta vẫn nói – một hiện tượng tâm linh không ai tránh khỏi.

LẦN TRỪ QUỶ THỨ MƯỜI HAI

Lần trừ quỷ thứ mười hai vào ngày 21.6.1920, ba ngày trước đó, con quỷ tuyên bố rằng nó sẽ không chịu ra trước 5 giờ chiều ngày 23.6. Nhưng dẫu sao kể từ lúc đó, nó đã yếu đi rất nhiều. Ngay từ đầu lần trừ quỷ thứ 12 này, người ta đã thấy điều đó. Khi đọc kinh cầu các thánh hay những kinh nguyện chuẩn bị khác, người phụ nữ bị quỷ nhập không còn làm dữ như những lần trước nữa. Thay vì vươn mình như một con ác thú chuẩn bị chồm tới, thay vì nhìn một cách căm thù những người tới chứng kiến, nhất là vị linh mục trừ quỷ, thì chị ta ngồi, đầu cúi xuống, cằm sát tới ngực, bàn tay nắm lấy thành ghế, trong một thái độ yếu ớt, xấu hổ và hối hận.

Khi vị linh mục vừa cất tiếng lên, thì chị ta từ từ đứng dậy, rồi nằm sõng soài đau đớn trên tấm nệm đặt trước mặt chị, tay chân chị cứng ngắc, đôi mắt nhắm lại. Tất cả những người hiện diện đều xúc động khi nhìn thấy thân xác chị thảm thương như một xác chết, và họ đang chờ đợi một cú nhảy lên bất ngờ như đã xảy ra trong bao nhiêu lần khác, hoặc vặn vẹo người, la hét, gầm thét lên, khiến những người nghe thấy phải đứng tim. Vị linh mục, không mấy an tâm, hết nhìn lên cây thánh giá trên bàn thờ nhỏ, lại liếc nhìn bình nước thánh để chắc chắn rằng mọi sự đã sẵn sàng để có thể bất ngờ tấn công con quỷ. Rồi cha bắt đầu ra lệnh như mọi lần.

_ Ta ra lệnh cho mi không được động đậy, và chỉ trả lời những câu hỏi của ta. Mi hiểu không?

Không có trả lời.

_ Hãy trả lời ta, mi hiểu không?

Vẫn không có tiếng trả lời.

_ Mi không thể trả lời hay không muốn trả lời?

Vẫn im lặng.

Vị linh mục bối rối. Làm sao bắt con quỷ câm này nói được? Ngài nảy ra một sáng kiến.

_ Nếu mi không thể trả lời được, thì giơ một ngón tay. Nếu mi không muốn trả lời thì giơ hai ngón.

Nghe lệnh này, người bị quỷ nhập từ từ giơ một ngón tay lên như là phải khó nhọc lắm giữa sự im lặng của mọi người. Chị ta không thể trả lời.

Những người chứng kiến cảnh này bị ấn tượng sâu xa. Cái người mà ma quỷ đã nhiều lần biến thành mạnh bạo như thế, độc đoán và hống hách như thế, vậy mà giờ đây lại tỏ ra mệt mỏi như thế, nhục nhã như thế, bất lực như thế, tỏ ra ủ rũ, buồn thảm sâu xa như thế, khiến cho người ta không thể nào quên được!

Cuộc đối thoại còn kéo dài giữa vị linh mục và người bị quỷ nhập. Chị ta luôn luôn trả lời bằng cách giơ một hoặc đôi khi hai ngón tay lên. Cuối cùng linh mục ra lệnh:

_ Đứng dậy! Mửa ra!

Khi dùng từ ngữ này, cha muốn ám chỉ rằng cái bùa là một miếng thực phẩm đã ăn vào trước đó 7 năm, mà bây giờ chị phải mửa ra để được giải phóng khỏi cái phù phép đó. Đã nhiều lần vị linh mục ra lệnh này: mửa ra! Nhiều lần chị cũng đã mửa ra một vài miếng, không lần nào là những thức ăn của bữa trước. Nhưng chính cái viên bùa thì chưa ra.

Lần này nữa, chị từ từ đứng dậy, từ từ lại gần cái chậu và ráng vâng lời, nhưng không được. Vị linh mục đã cầu cứu tới quyền năng của ba tiếng Sanctus! Sanctus! Sanctus! mà chúng ta đã từng nói tới. Tất cả cộng đoàn đều hô lên với cha ba tiếng đó.

Chị bị quỷ nhập vâng lời và lại mửa ra một cái gì đó, nhưng cái viên thịt ác hiểm kia thì vẫn chưa chịu ra. Và cũng chẳng thể đạt được cái gì khác hơn nơi chị ta nữa.

NGÀY VĨ ĐẠI

Cuối cùng là cái ngày vĩ đại ấy. Isabo đã nói: ngày 23.6.1920, người ta sẽ thấy rõ điều đó. Bác sĩ Lupi tò mò hơn ai hết về những gì sắp xảy ra. Tất cả mọi người đều tới đúng giờ để có được cái kinh nghiệm độc đáo này. Bác sĩ Lupi bị căng thẳng hơn bình thường, nên cứ lấy cây gậy của mình gõ xuống mặt đất hoài. Các kinh nguyện chuẩn bị được đọc một cách sốt sắng hơn những lần khác. Trong căn phòng trừ quỷ, người phụ nữ bị quỷ nhập bò lê, trông xanh xao mệt mỏi hơn, thẹn thùng hơn bao giờ hết. Chị ngồi phịch xuống cái ghế bành dành cho chị, đầu nghiêng một bên, trong tư thế của một người bị kết án tử hình ngồi trên chiếc ghế điện. Khi những lời trừ quỷ đầu tiên cất lên, chị nằm dài trên tấm nệm, người cứng ngắc, mắt nhắm lại. Bác sĩ Lupi chú ý hơn, không muốn bỏ mất một chi tiết nào trong kinh nghiệm này.

_ Nhân danh Thiên Chúa, vị linh mục kêu lên, ta ra lệnh cho mi phải vâng lời ta, làm tất cả những gì ta truyền lệnh. Mi hiểu không?

Im lặng.

_ Nhân danh Thiên Chúa, nhân danh Đức Maria, ta ra lệnh cho mi như thế!

Vẫn im lặng.

_ Nếu mi hiểu thì giơ một tay lên, nếu không hiểu thì giơ hai tay.

Một cách chậm chạp như không còn hơi sức nữa, chị ta giơ tay lên. Cuộc đối thoại gây xúc động lại tiếp tục. Người ta biết rằng hôm trước có một con quỷ đã ra khỏi chị để nhập vào một người khác. Người ta cũng biết rằng tất cả những thành viên khác trong gia đình đã bị quỷ nhập ít hoặc nhiều, nay đã được chữa lành hoàn toàn.

Còn có những tranh luận giữa Isabo và linh mục về vấn đề tất cả các con quỷ có phải ra cùng một lượt với nhau không. Cuối cùng, để chóng kết thúc, vị linh mục ra cái lệnh mà mọi người đang chờ:

_ Hãy đứng dậy và mửa ra!

Nghe lời này, người bị quỷ nhập ráng đứng dậy, mắt nhìn chằm chằm xuống đất, và quỳ gối xuống cạnh cái chậu. Chị cúi xuống, và với tất cả cố gắng khiến chị rung động cả toàn thân, chị ráng mửa ra. Vị linh mục hết năn nỉ lại ra lệnh, thúc giục chị vâng lời. Người phụ nữ đáng thương ấy trông giống như một xác chết.

_ Mửa ra! Vị linh mục lại ra lệnh.

Với những co thắt trông thật tội nghiệp, chị tựa cùi chỏ vào hai cái ghế hai bên và ráng mửa ra. Khó nhọc mà không mửa ra được gì.

_ Hãy đọc Sanctus! Vị linh mục lên tiếng.

Nghe vậy chị mửa ra được cái gì đó, nhưng còn ít quá! Đầu chị dường như gục xuống. Cần phải nâng đỡ chị, nếu không, có thể chị sẽ chết mất!

Lúc này, vị linh mục nhìn đồng hồ:

_ Bây giờ là 4g35, cha nói. Với tất cả uy quyền mà Thiên Chúa ban cho ta, ta ra lệnh cho mi, hỡi thần ô uế, phải ra khỏi thân xác này ngay, nếu mi không ra ngay tức khắc, ta sẽ đuổi mi ra sa mạc, ra giữa sa mạc Sahara, nếu không ta sẽ đuổi mi xuống hỏa ngục.

Nghe vậy, tất cả những người có mặt đều run lên. Giờ phút nghiêm trọng đã tới! Không có gì khiến cho Satan sợ hãi cho bằng bị ném xuống hỏa ngục. Điều này gợi cho chúng ta một khía cạnh bị hiểu sai lầm về số phận của ma quỷ. Trong Tin Mừng, các con quỷ đã thích nhập vào đàn heo hơn là bị đuổi xuống “Vực Sâu”.

Vậy, ở Plaisance, tất cả cử tọa đều chờ đợi. Mọi nhân chứng đều nghe thấy tim mình đập và nín thở.

Lúc đó, theo lệnh của vị linh mục, người bị quỷ nhập từ từ mửa ra. Đằng sau, tóc chị từ đầu thả xuống dưới lưng như một bộ tóc giả to lớn phủ hết phần dưới gáy. Đôi mắt chị đầy lệ. Trông chị có vẻ ngây dại và nhớn nhác. Các bắp thịt ở mặt xệ xuống, môi dưới dường như trĩu xuống cằm. Không còn gì có vẻ là người trên cái khuôn mặt bị biến dạng ấy. Cặp mắt long lanh như muốn khóc, chiếc miệng mở hé, đôi má hóp vào như xác chết. Tất cả những ai trông thấy chị đều chắc chắn không cầm được nước mắt.

Cuối cùng, người ta nghe thấy một giọng sầu thảm, nghẹn ngào, ngập ngừng nói trong cổ họng:

_ Ta … đi … đây …!

Lúc đó, đầu của người phụ nữ cúi xuống cái chậu, và từ miệng chị mửa ra một lượng lớn những thứ ghê tởm.

_ Hãy cút đi! Xéo đi! Vị linh mục kêu lên, lòng khấp khởi mừng vui.

Từ lúc đó, người bị quỷ nhập không còn cảm thấy dây các phép hay việc đặt tay của linh mục lên đầu chị là một gánh nặng ghê gớm nữa. Bỗng bằng một giọng tươi mát, trẻ trung, vui sướng, chị kêu lên:

_ Tôi khỏi rồi!

Và chị đưa mắt nhìn những người chứng kiến từ người này sang người khác trong trạng thái hân hoan, với một nụ cười chiến thắng.

_ Thế còn viên thịt mà Isabo nói tới đâu? Cha Pier-Paolo hỏi.

_ Viên thịt đó chắc chắn ở trong chậu! Ông bác sĩ nói.

Ông đứng dậy, tiến lại gần cái chậu, và lấy cây gậy của ông khua vào những chất trong chậu. Ông nói: “Hãy nhìn đây!”, ông vừa nói vừa dùng gậy khều lên tất cả những gì người phụ nữ đã mửa ra, trông nó như là một miếng vải. Thật vậy, trước những cặp mắt ngạc nhiên của những người chứng kiến, một cái gì giống như một tấm “voan” rất đẹp, lóng lánh những màu sắc của chiếc cầu vồng! Sau khi mở tấm “voan” ra, ở giữa tấm voan đó, người ta thấy viên thịt “nổi tiếng” mà con quỷ đã từng mô tả nhiều lần trong những nghi thức trừ quỷ ấy. Đó là một viên thịt heo ướp muối, lớn bằng quả cau, có bảy sừng.

KẾT LUẬN

Thần ác ấy đã giữ lời hứa. Chính ông bác sĩ mới đầu khó tin như thế, mà bây giờ đã tin chắc chắn, vì có những bằng chứng rất rõ ràng và dứt khoát.

Người phụ nữ bị quỷ nhập, sau khi khỏi bệnh, khóc thút thít, nhưng nước mắt của chị bây giờ là nước mắt vui mừng. Vả lại, ngay cả những người chứng kiến cũng thấy mắt mình rướm lệ. Ông bác sĩ vẫn còn hăm hở, xem xét, tìm tòi trong cái chậu. Hai linh mục thì nhìn lên Chúa Kitô chiến thắng.

Vị linh mục trừ quỷ mời tất cả mọi người hiện diện quỳ gối trước bàn thờ. Người phụ nữ được giải phóng khỏi ma quỷ đã dâng lên Chúa những dòng lệ với những tiếng khóc nức nở thổn thức. Chị vừa thoát khỏi cơn thử thách kinh khủng nhất. Chắc chắn cái lỗi lầm đầu tiên của chị là đã đi hỏi ý kiến một ông thầy pháp tự xưng mình là thầy lang chữa bệnh, ông này đã phải lòng chị. Vì chị từ chối lời tỏ tình của ông ta, nên ông ta đã trả thù bằng cách bỏ bùa chị. Chúng ta vừa thấy được những hậu quả tai hại do hành động đó của chị. Điều này thật kỳ lạ! Trong chương sau, chúng ta sẽ gặp một trường hợp hầu như giống y như vậy, nhưng xảy ra khoảng 30 năm sau trong một vùng hoàn toàn khác hẳn.

Câu chuyện về việc trừ quỷ trên đây vẫn còn được những người thời đại ở Plaisance nhắc tới. Người ta biết rằng vị Giám mục đã ra lệnh trừ quỷ bị chết thình lình sau đó ít lâu. Có phải Satan trả thù không? Còn một vài sự kiện khác khiến người ta có thể nghĩ như thế, nhưng dẫu sao sự trả thù này vẫn là một thú nhận sự bất lực của nó. Vị Giám mục đã làm đúng bổn phận của ngài. Và cho dẫu ngài có mất đi thì công lao của ngài vẫn tồn tại mãi mãi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*